Kiến thức tổ chức sự kiện | Kinh nghiệm tổ chức sự kiện | Tổ chức sự kiện chuyên nghiệp: Văn hoá Việt

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Chùa Một Cột đón Kỷ lục kiến trúc độc đáo nhất châu Á

Written By Trangia Event on Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012 | 18:17


Sáng 12/11, tại Hà Nội, chùa Một Cột đã vinh dự được công nhận kỷ lục "Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á" do Tổ chức Kỷ lục châu Á trao tặng.

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Chùa Một Cột
Đại diện Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, thành phố Hà Nội, các cơ quan quản lý văn hóa và đông đảo phật tử đã đến dự.
Chùa Một Cột, là một trong những hạng mục nằm trong quần thể kiến trúc chùa Diên Hựu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, chùa được xây dựng vào năm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 (1049) đời Lý Thái Tông.
Chùa hiện nay xây dựng vào năm 1955, đài Liên hoa có kết cấu hình vuông, lợp ngói ta, mỗi chiều dài 3m, bốn mái cong, bốn đầu đao được đắp hình đầu rồng. Trong đài tôn trí tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Nhìn toàn bộ đài Liên Hoa như một đóa sen lớn vươn khỏi mặt nước. Toàn bộ đài đặt trên trụ đá có đường kính 1,2m, cao 4m…. Nét độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá.
Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng và được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trong giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Năm 1962, chùa Một Cột được xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Năm 2006, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam cũng xác lập kỷ lục Việt Nam và đề cử tới Tổ chức Kỷ lục châu Á.
Nguồn: Theo KTĐT

Hội làng - tinh hoa văn hóa Việt Nam

Written By Trangia Event on Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012 | 18:25

Hàng năm, có lẽ không có làng quê Việt Nam nào lại không mở hội làng, nhỏ thì một ngày, lớn thì nhiều ngày, nhất là những năm được mùa thì hội làng vui không kể xiết.

Tổ chức sự kiện Trần Gia- Hội làng

Hội làng Triều Khúc
Hội làng ở các làng quê nước ta thường được tổ chức vào mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt, lòng người hân hoan. Có thể nói, trên cái nền hết sức phong phú và đa dạng của hội hè, đình đám ở nông thôn Việt Nam, hội làng được coi là thời điểm cuốn hút nhất, tưng bừng nhất với những nghi thức tôn nghiêm và thuần Việt nối đời: tế lễ, rước, trò vui và hát xướng...

Ngoài các quốc lễ do Nhà nước phong kiến tổ chức, hội làng thường do một làng đứng ra tổ chức, hoặc có thể do một số làng gần nhau cùng thờ chung một thành hoàng, cùng có mối liên hệ lịch sử thông qua sự tích thánh mà họ tôn phụng. Nhưng, dù là hội của một làng hay liên làng thì hội làng như một mạch nước ngầm xuyên thời gian, bừng chảy tràn trề trong đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh người Việt.

Hội làng đã có từ xa xưa, theo sử sách, nhiều hội làng nổi tiếng tiêu biểu cho tín ngưỡng phồn thực được bảo lưu từ thời thượng cổ. Ngay trên trống đồng cổ, cũng có những nét hoa vǎn, dấu ấn của hội làng. Có những hội làng trở nên tiêu biểu, nức tiếng gần xa như hội: Đền Hùng-tỉnh Phú Thọ, hội Cổ Loa, Lệ Mật, Phù Đổng của Hà Nội, hội Liễu Đôi (Nam Hà), Bắc Ninh có hội Đồng Kỵ, hội Lim... Bắc Giang có hội Yên Thế, Xương Giang, Thổ Hà, Vạn Vân, các hội làng ở Hà Tây, Hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), hội chùa Dâu, Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), hội chùa Keo (Thái Bình) và hội đua ghe ngo của đồng bào Khơme Nam Bộ, hội vùng núi Sam (Châu Đốc - An Giang)...

Có thể nói, hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc, đó là đỉnh cao của sự hòa hợp, đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã. Hội làng thường được tổ chức thật vui, thật đầm ấm tình làng nghĩa xóm, điều đó thể hiện qua những khâu chuẩn bị cho đến khi nuối tiếc lúc tan hội. Có xem hội làng mới cảm nhận hết ý nghĩa và lòng tự hào dân tộc với một truyền thống vàng son.
Cũng như Lễ hội truyền thống, hội làng gồm hai phần lễ và hội, thường diễn ra ở các ngôi đình làng. Nhưng, ở hội làng, phần hội bao giờ cũng nổi trội hơn. Lễ thể hiện lòng ngưỡng mộ, sùng bái anh hùng, tôn vinh danh nhân, người có công với dân, tổ nghề, có thể là những thần, thánh, phật, mẫu, những nhân vật siêu phàm, những đại diện cho tôn giáo, người bảo trợ tinh thần và đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho cộng đồng. Phần lễ thường gồm các hoạt động rước nước và mộc đục, rước và tế... Hội là dịp thể hiện những sinh hoạt văn hóa cộng đồng từ múa, hát giao duyên, hát thờ, các diễn xướng sân khấu cổ truyền, các cuộc thi tài mang tính thượng võ (bơi trải - hội làng Đăm, chạy cờ - làng Triều Khúc, thú chơi cờ người - làng Xuân Phương...), các trò diễn phong tục (thổi cơm thi - làng Thị Cấm, bơi cạn và bắt chạch trong chum - làng Hồ, trình nghề - làng Sài Đồng, thú chơi thi thơ, thú chơi tạo cây cảnh, con giống bằng sáp nến, thú chơi chọi gà, vùng Bưởi)...
 
Tổ chức sự kiện Trần Gia - Hội làng

Hội làng bún Phú Đô
Trong các sinh hoạt hội, mọi người tham gia trình diễn, sáng tác, thưởng thức và hưởng thụ sau những ngày lao động vất vả, không kể sang hèn. Vì thế, có thể cho rằng, hội làng đã tạo nên niềm cộng cảm sâu sắc giữa các thành viên trong cộng đồng, là sự nhất quán trong việc trao truyền các giá trị vǎn hóa giữa các thế hệ.

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực là khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức hướng về cội nguồn, hội làng còn tồn tại một số tập quán lạc hậu, những biểu hiện mê tín, những tệ nạn xã hội. Ở một số nơi, hội làng được tổ chức không phải để tôn vinh các giá trị truyền thống mà để kinh doanh kiếm lời. Họ rào làng, bịt lối, bán vé vào cửa, bán vé vào lễ, gây phiền hà cho người đến lễ hội, trái ngược hẳn với tục mở rộng vòng tay đón bạn mười phương về chung vui hội làng thời xưa. Các tệ nạn mê tín dị đoan như: lên đồng, bói toán, đội bát nhang, uống nước thánh, đốt vàng mã, cúng tế, rước xách linh đình kéo dài ngày càng có chiều hướng gia tǎng. Hơn nữa, trong hội làng đã bắt đầu xuất hiện các tệ nạn xã hội như: đánh bạc, cá cược, hút thuốc phiện...
Một mùa lễ hội mới đã về trên khắp nẻo làng quê Việt Nam. Chúng ta mong rằng hội làng vẫn giữ nguyên sức cuốn hút, hấp dẫn của nó, giảm trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội. Bởi hội làng là tinh hoa văn hóa Việt Nam, là chìa khóa vĩnh cửu - một sự đảm bảo chắc chắn góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.
                                                                                                      Nguồn: Sưu tầm

Linh thiêng miền đất Tây Yên Tử

Yên Tử được biết đến như một kinh đô Phật giáo của Việt Nam. Du khách hành hương về Yên Tử hằng năm thường đi theo đường từ phía Đông Yên Tử qua tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên hiện nay có một con đường khác linh thiêng và kỳ thú đang từng bước được khai thông.  Đó là con đường khám phá đỉnh Yên Tử từ phía Tây qua địa phận tỉnh Bắc Giang.

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Linh thiêng đất TâyYên Tử
Núi Yên Tử nằm trên cánh cung Đông Triều ôm gọn vùng Đông Bắc Việt Nam, sườn Đông chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Ninh, sườn Tây thuộc các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động tỉnh Bắc Giang. Hiện nay dọc sườn Tây Yên Tử còn lưu lại rất nhiều các di tích, công trình lịch sử văn hóa liên quan đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là vào thời Lý - Trần. Đặc biệt hơn nữa phía sườn Tây Yên Tử còn có hàng loạt các công trình di tích liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và hưng thịnh của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử như chùa Vĩnh Nghiêm, Am Vãi, chùa Hồ Thiên, Hồ Bấc, chùa Bình Long, đỉnh núi Yên Mã… Theo khảo sát các di tích này đều thuộc vào hàng danh thắng, mang nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa và có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng. Các chùa đều được dựng ở nơi núi cao bằng phẳng, thoáng đãng có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ. Đứng ở vị trí các ngôi chùa này đều có thể có cái nhìn bao quát toàn cảnh sông núi xung quanh. Mỗi ngôi chùa lại có những nét kiến trúc riêng và được xây dựng theo luật phong thủy, địa lý. Các chùa đều có cái thế đầu gối sơn, chân đạp thủy long có thành quách bao bọc rõ ràng. Trong hệ thống các thắng tích miền Tây Yên Tử tiêu biểu phải kể đến Vĩnh Nghiêm Tự, chùa Am Vãi và khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang…
Chùa Vĩnh Nghiêm hay còn gọi là Đức La thuộc thôn Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng chỉ cách thành phố Bắc Giang khoảng 10 km về phía Nam. Chùa được xây dựng từ thời Lý và mở rộng vào thời Trần khi vua Trần chút bỏ hoàng bào tu hành hoằng đạo đã đến nơi này và từ đó chùa Đức La trở thành trung tâm phật giáo của cả nước khi ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm mở trường thuyết phấp tại đây. Một thời, Đức La còn là nơi tiền trạm để các môn đồ Phật giáo, khách hành hương nghỉ chân trước khi vượt sông leo núi lên đỉnh Yên Tử. Vì thế người xưa từng có câu ca:
“Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm
Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành”.
Vĩnh Nghiêm được đặt ở nơi cảnh đẹp, thoáng và rộng, phía lưng tựa vào núi Cô Tiên thuộc dãy núi Nham Biền, mặt ngoảnh nhìn ngã ba Phượng Nhỡn – nơi hợp lưu của 3 con sông Lục Nam, Sông Thương và sông Cầu. Hiện nay, dù trải qua thăng trầm của hơn 700 năm lịch sử nhưng Vĩnh Nghiêm vẫn cơ bản giữ được lối kiến trúc cổ mang nét đặc trưng của các ngôi chùa cổ vùng đồng bằng Bắc bộ. Vĩnh Nghiêm hiện là nơi thờ Phật và ba vị tam tổ của thiền phái Trúc Lâm gồm:  Phật hoàng Trần Nhân Tông, thiền sư Pháp Loa và thiền sư Huyền Quang. Tham quan nơi này du khách sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng cây hoa Nhập Nhân có tuổi gần bằng với tuổi của ngôi chùa cổ, cây hoa Đại 300 năm tuổi và đặc biệt là kho mộc thư gồm gần 3 nghìn bản ván khắc kinh Phật, các trước tác của 3 vị Trúc Lâm Tam tổ…. Đây là bộ thư khố cổ niên đại hơn 300 tuổi có nhiều giá trị lịch sử phật học, văn hóa và y học đang được UNESCO xem xét công nhận là di sản tư liệu của thế giới, được hòa mình trong không khí thanh bình của làng quê Việt Nam với những bờ tre, gốc lúa và sự đón tiếp nồng hậu, chân thành của người dân địa phương.
Chùa Am Vãi hay còn gọi là Am Ni tự nằm cách thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn 15km, thuộc xã Nam Dương. Nằm ở vị trí núi cao nên phong cảnh chùa vừa thơ mộng lại vừa hùng vĩ và được đánh giá là một điểm linh tụ của trời đất. Chùa có cái thế lưng tựa núi, mặt ngoảnh nhìn ra thung lũng rộng mênh mông, nơi có con sông Lục Nam uốn mình như dải lụa. Chùa nằm cách xa khu dân cư, ẩn mình trong một khu rừng thưa. Để lên được Chùa, du khách có thể đi bằng đường núi từ xã Tân Mộc hay có thể đi bằng đường thủy dọc theo các nhánh của con sông Lục Nam đến bến Nam Dương và tiếp tục leo núi vào chùa. Và một con đường mới được mở mà ô tô có thể lên được đến sân chùa đó là đường từ xã Nam Dương. Theo đường này du khách đi chừng khoảng hơn 4 km trên sườn núi. Tuy đường lên chùa phải qua nhiều đèo dốc song bù lại từ trên sườn núi du khách có thể thả hồn ngắm cảnh núi non hùng vĩ của dãy Yên Tử và trải dài tầm mắt nhìn về phía thung lũng dưới chân núi, xa xa là những ngôi nhà thấp thoáng trong các đồi vải bạt ngàn, những cách đồng phì nhiêu được dòng sông Lục Nam bồi đắp... Ngôi chùa gắn liền với nhiều truyền tích về hang tiền, hang gạo, các nàng tiên giáng trần mà dấu tích vẫn còn lại quanh chùa đến ngày nay.Nơi đây cũng từng là chốn tu thiền nhập định của công chúa nhà Trần…Đến chùa Am Vãi du khách không chỉ thoả lòng thành tâm hướng Phật, được thưởng ngoạn cảnh đẹp núi non hùng vĩ, bản làng thơ mộng và thưởng thức dòng nước ngọt ngào tuôn ra quanh năm từ những khe núi… đắm mình trong thiên nhiên cây cỏ ở khu rừng thưa tĩnh lặng phía sau chùa, tạm lánh xa những sô bồ của cuộc sống hiện đại, thư thái tìm về cõi tâm linh…   

Cong-ty-su-kien-Tran-Gia-Den-Ha-tai-khu-thang-canh-suoi-Mo
Đến với miền đất linh thiêng Tây Yên Tử du khách có thể ghé thăm khu thắng cảnh suối Mỡ, chùa Hồ Bấc, đỉnh Yên Mã thuộc huyện Lục Nam…Đi thăm bản văn hóa người Dao thuộc xã Tuấn Mậu huyện Sơn Động nằm ngay dưới chân núi Yên Tử.  Cư dân của Bản Mậu 100% là người Dao hiện còn gìn giữ được nhiều nét văn hóa đặc trưng của tộc người như nghề hái và bốc thuốc Nam truyền thống, nghề thêu thổ cẩm. Trước kia, nơi đây từng có nhiều con gái đẹp được tiến Vua. Các cô gái bản Mậu sở hữu một vẻ đẹp hoang sơ với nước da trắng ngần, đôi mắt đen biết nói và thuộc những bài dân ca trong vắt…
Tiếp tục cuộc hành trình quí khách sẽ khám phá khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử tại khu du lịch sinh thái Đồng Thông – nơi bảo tồn hàng ngàn loài động thực vật quí hiếm và nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như thác Giót, thác Ba tia, Bãi Đá Rạn, Ao vua, Hồ Tiên, Suối nước trong hay còn gọi là suối Thông, Suối nước vàng…Từ đây quí khách sẽ chỉ mất khoảng 2 giờ đi bộ để chinh phục chốn phù vân linh thiêng Yên Tử với đích đến là Chùa Đồng…Suốt dọc hành trình chinh phục chùa Đồng quí khách sẽ được thưởng thức tiếng chim ca, tiếng róc rách của nước chảy, tiếng sào sạc của rừng cây, đắm mình trong cảnh thiên nhiên hoang sơ và hùng vĩ của núi rừng Yên Tử…
Hiện nay con đường từ thành phố Bắc Giang đi Yên Tử đã khá thuận lợi với khoảng cách chừng hơn 2 giờ xe chạy. Để rút ngắn thời gian đi từ thành phố Bắc Giang đến với Tây Yên Tử, UBND tỉnh Bắc Giang vừa phê duyệt dự án đầu tư trên 2.700 tỷ đồng cho việc cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 293 từ thành phố Bắc Giang đi Sơn Động và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử, chùa Vĩnh Nghiêm; Thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Tây Yên Tử với trị giá khoảng 50 tỷ đồng gồm các hạng mục như xây nhà điều hành, khu nhà sàn dân tộc, nhà để xe, mở rộng đường lên Chùa Đồng…vv Cùng với đó hiện sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tiến hành xây dựng quy hoạch bảo tồn tổng thể hệ thống di tích danh lam thắng cảnh phía sườn Tây Yên Tử nhằm bảo tồn cảnh quan, giá trị lịch sử văn hóa của các di tích đồng thời tạo cơ sở phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách. Đến với Bắc Giang vào mùa xuân Du khách sẽ còn có cơ hội tham gia vào các lễ hội truyền thống của người dân địa phương tại chùa Vĩnh Nghiêm được tổ chức vào ngày 14- 15/2, hội chùa Am Vãi vào dịp 23 tháng 3, hội đền Suối Mỡ được mở vào ngày 30-1/4 âm lịch hằng năm.
                                                                 Nguồn:  Hà Yến

Chiếc áo bà ba - Nét đẹp Phương Nam

Written By Trangia Event on Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012 | 23:35




Chiếc áo bà ba là y phục đặc trưng đồng hành cùng người phụ nữ Nam bộ từ bao đời nay. Hình ảnh chiếc áo bà ba gợi cho người ta nghĩ ngay đến vẻ đẹp thuần hậu, mộc mạc, dịu dàng của người phụ nữ trên vùng quê sông nước.

Ngược dòng lịch sử, trở về mảnh đất Nam Bộ xưa kia cũng là tìm về gốc tích của chiếc áo bà ba. Không như người miền Bắc mặc váy, yếm, hay áo tứ thân..., bộ y phục thường ngày của người Nam bộ thế kỷ XVIII là áo ngắn và quần dài. Về sau, đến thế kỷ XIX đã có sự cải tiến quan trọng cho bộ y phục ban đầu ấy thành bộ y phục thông dụng đó là bộ quần áo có tên bà ba.
Bộ bà ba đen, khăn rằn và nón lá đã kết hợp với nhau trở thành nét biểu trưng đặc sắc cho vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp văn hoá của người phụ nữ Nam bộ nói riêng và người phụ nữ Việt Nam.

Áo bà ba vốn là áo không cổ. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống . Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Độ dài của áo chỉ trùm qua mông, gần như bó sát thân.


Nút áo bà ba cũng đa dạng và biến đổi theo mỗi giai đoạn. Trước đây, người ta thường sử dụng kiểu nút áo truyền thống là nút bắm. Hiện nay, người thợ may thiết kế nhiều kiểu nút hơn như loại nút có hình dáng xuất phát từ kiểu áo xẩm của người phụ nữ Trung Hoa. Tuy nhiên, loại nút áo truyền thống được sử dụng từ xua đến nay vẫn luôn tồn tại.


Có thể nói, hình ảnh người con gái trong chiếc áo bà ba, nghiêng nghiêng vành nón lá, kết hợp với chiếc quần đen vừa chấm gót như làm tăng thêm vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ Nam Bộ. Trong những đường nét mộc mạc của chiếc áo bà ba như diễn tả một phẩm hạnh, một giá trị vĩnh cửu của người phụ nữ Việt Nam.

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba


Tổ chức sự kiện Trần Gia- Áo bà ba

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba


Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba

Tổ chức sự kiện Trần Gia- Áo bà ba
Mời độc giả chiêm ngưỡng nét đẹp duyên dáng dịu dàng của chiếc áo bà ba được các người đẹp miền sông nước tôn vinh - một màu sắc rất riêng của Hoa Khôi Đồng Bằng 2012:
Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia- Áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia- Áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia- Áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia- Áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia- Áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
Người đẹp Nguyễn Thị Tuyết Ngọc lọt vào Top 5 người đẹp nhất

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
Người đẹp qua ảnh Diệp Hồng Đào

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
Hoa khôi Đồng bằng 2012 trong phần thi áo bà ba
Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
Á khôi 1 Nguyễn Thị Thanh Thùy - Vĩnh Long

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
Á khôi 2 Nguyễn Thị Phương Uyên (Bến Tre) trong phần thi áo ba ba rất ấn tượng với hoa dừa trên tay
Tổ chức sự kiện Trần Gia - Áo bà ba
10 người đẹp nhất 
                                                                         Nguồn: Sưu tầm

Chợ bò Mèo Vạc - một nét văn hoá trên vùng Cao nguyên đá


Chợ bò Mèo Vạc, một phiên chợ buôn bán bò lớn nhất tỉnh Hà Giang, nằm trên vùng Cao nguyên đá. Chợ bò Mèo Vạc được hình thành từ rất lâu, nhưng nó chỉ thực sự phát triển mạnh từ khi huyện Mèo Vạc có chủ trương đẩy mạnh phát triển đàn trâu, bò hàng hoá (từ năm 2000 đến nay). Chợ bò Mèo Vạc được bán tại khu sân vận động trung tâm huyện, họp vào ngày chủ nhật trong tuần.
Phiên chợ bò Mèo Vạc không chỉ là nơi trao đổi, mua bán bò của người nông dân và các thương lái của các tỉnh dưới xuôi mà còn là nơi giao lưu, gặp gỡ, tâm tình giữa những người bạn. Chợ thường kéo dài gần hết cả ngày chủ nhật…
Bò ở chợ phần nhiều bán cho các thương lái dưới xuôi (chủ yếu là Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên...), phần khác bà con đến mua bò về nhà nuôi.
Chợ bò Mèo Vạc ngoài ý nghĩa kinh tế còn gắn liền với hình ảnh văn hóa của một vùng quê, mang nét văn hóa chợ phiên đặc sắc đang từng ngày vươn lên thoát nghèo từ chăn nuôi bò hàng hoá.

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Chợ bò Mèo Vạc
Người dân mang bò ra chợ bán


Một góc chợ bò Mèo Vạc

Tổ chức sự kiện Trần Gia- Chợ bò Mèo Vạc




Tổ chức sự kiện Trần Gia- Chợ bò Mèo Vạc'


Xe của thương lái mua bò mang về xuôi


Tổ chức sự kiện Trần Gia- Chợ bò Mèo Vạc



Tổ chức sự kiện Trần Gia - Chợ bò Mèo Vạc

Nét tinh tế những cổ vật của nền " Văn hoá Trầu Cau"

Written By Trangia Event on Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012 | 19:53

 Bình vôi, ống vôi, ống nhổ... có niên đại từ thời Lý của tầng lớp quý tộc triều Nguyễn và những bộ đồ ăn trầu độc đáo của giới bình dân đã có mặt trong buổi trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam.

Sáng 24/10, Bảo tàng lịch sử quốc gia Việt Nam đã khai mạc trưng bày “Văn hóa trầu cau Việt Nam”.
Buổi triển lãm giới thiệu đến công chúng khoảng 100 hiện vật, hình ảnh tiêu biểu: bình vôi, hộp trầu, ống nhổ... nhằm giới thiệu nguồn gốc tục ăn trầu ở Việt Nam và góp phần gìn giữ, phát huy một nét đẹp của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.
Đáng chú ý trong số này có bộ trầu thuốc và bình vôi được làm bằng gốm có từ thời Hùng Vương của nhà sưu tầm tầm Nguyễn Trung Thành.
Triển lãm diễn ra với ba chủ đề chính: Tục ăn trầu và giá trị của văn hóa trầu cau ở Việt Nam, tục ăn trầu ở một số dân tộc ít người tại Việt Nam và việc bảo tồn giá trị văn hóa trầu cau Việt Nam.
Ngoài những hiện vật cổ người xem còn được chiêm ngưỡng hình ảnh ăn trầu, cách têm trầu, mời trầu... những tập tục truyền thống có từ lâu đời của Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bích Vân - Giám đốc Bảo tàng phụ nữ Việt Nam cho biết Văn hóa ăn trầu Việt Nam có đường nét lịch sử lâu đời và đã được bảo tàng làm nhiều đề tài khoa học nghiên cứu thể hiện sức sống không thể mai một của nó.
Triển lãm sẽ kéo dài đến tháng 1/2013.

Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau

Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event - Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau

Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền văn hoá Trầu Cau
Cối giã trầu đồ dùng của bà Lương Thị Tiệm, dân tộc Tày, Yên Bái.
Trangia Evnet- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Ống vôi kèm chìa khóa ngoáy năm bộ sưu tập cổ vật cung đình triều Nguyễn


Trangia Event- Cổ vật của nền văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền văn hoá Trầu Cau
Trangia Event - Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Ống nhỏ chạm nổi hình rồng vàng thời Nguyễn.
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Cối ngoái trầu và hộp đựng làm bằng vàng, đồng và pha lê thời Nguyễn thế kỷ 19-20.
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Bộ đồ ăn trầu Ngọc, ngà, bạc, vàng thời Nguyễn.
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Bình vôi quai hình buồng cau, gốm hoa lam, đầu thế kỷ 20. Lò gốm Vạn Ninh, Quảng Ninh. Sưu tập Thành Hải Dương
Trangia Event- Cổ vật của nền văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu cau
Trangia Event- Cổ vật của nền văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền văn hoá Trầu Cau
Khay, gỗ khảm trai, thời Nguyễn, thế kỷ 19 - 20. Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Hộp thuốc của dân tộc Thái.
Trangia Event- Cổ vật của nền văn hoá Trầu Cau

Hộp trầu thuốc chạm nổi hình Rồng, Phượng Vàng, thời Nguyễn, thế kỷ 19 - 20. Sưu tập cổ vật cung đình triều Nguyễn.
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Xà tích làm bằng bạc được dùng trong cung đình thời Nguyễn.
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Giỏ đựng trầu của bà Lâm Thị Hoa Cúc, dân tộc Khơ me, Trà Cú, Trà Vinh.
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Túi đựng trầu của bà Nguyễn Thị Quyển, dân tộc Tày, Ba Bể, Bắc Cạn. 
Trangia Event- Cổ vật của nền Văn hoá Trầu Cau
Ống vôi của dân tộc Xơ đăng.

                                                                                                                                  Nguồn: Huy Hùng

Sự kiện nổi bật