Kiến thức tổ chức sự kiện | Kinh nghiệm tổ chức sự kiện | Tổ chức sự kiện chuyên nghiệp: Phật Giáo

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chùa Một Cột đón Kỷ lục kiến trúc độc đáo nhất châu Á

Written By Trangia Event on Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012 | 18:17


Sáng 12/11, tại Hà Nội, chùa Một Cột đã vinh dự được công nhận kỷ lục "Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á" do Tổ chức Kỷ lục châu Á trao tặng.

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Chùa Một Cột
Đại diện Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, thành phố Hà Nội, các cơ quan quản lý văn hóa và đông đảo phật tử đã đến dự.
Chùa Một Cột, là một trong những hạng mục nằm trong quần thể kiến trúc chùa Diên Hựu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, chùa được xây dựng vào năm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 (1049) đời Lý Thái Tông.
Chùa hiện nay xây dựng vào năm 1955, đài Liên hoa có kết cấu hình vuông, lợp ngói ta, mỗi chiều dài 3m, bốn mái cong, bốn đầu đao được đắp hình đầu rồng. Trong đài tôn trí tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Nhìn toàn bộ đài Liên Hoa như một đóa sen lớn vươn khỏi mặt nước. Toàn bộ đài đặt trên trụ đá có đường kính 1,2m, cao 4m…. Nét độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá.
Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng và được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trong giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Năm 1962, chùa Một Cột được xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Năm 2006, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam cũng xác lập kỷ lục Việt Nam và đề cử tới Tổ chức Kỷ lục châu Á.
Nguồn: Theo KTĐT

Linh thiêng miền đất Tây Yên Tử

Written By Trangia Event on Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012 | 18:19

Yên Tử được biết đến như một kinh đô Phật giáo của Việt Nam. Du khách hành hương về Yên Tử hằng năm thường đi theo đường từ phía Đông Yên Tử qua tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên hiện nay có một con đường khác linh thiêng và kỳ thú đang từng bước được khai thông.  Đó là con đường khám phá đỉnh Yên Tử từ phía Tây qua địa phận tỉnh Bắc Giang.

Tổ chức sự kiện Trần Gia - Linh thiêng đất TâyYên Tử
Núi Yên Tử nằm trên cánh cung Đông Triều ôm gọn vùng Đông Bắc Việt Nam, sườn Đông chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Ninh, sườn Tây thuộc các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động tỉnh Bắc Giang. Hiện nay dọc sườn Tây Yên Tử còn lưu lại rất nhiều các di tích, công trình lịch sử văn hóa liên quan đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là vào thời Lý - Trần. Đặc biệt hơn nữa phía sườn Tây Yên Tử còn có hàng loạt các công trình di tích liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và hưng thịnh của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử như chùa Vĩnh Nghiêm, Am Vãi, chùa Hồ Thiên, Hồ Bấc, chùa Bình Long, đỉnh núi Yên Mã… Theo khảo sát các di tích này đều thuộc vào hàng danh thắng, mang nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa và có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng. Các chùa đều được dựng ở nơi núi cao bằng phẳng, thoáng đãng có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ. Đứng ở vị trí các ngôi chùa này đều có thể có cái nhìn bao quát toàn cảnh sông núi xung quanh. Mỗi ngôi chùa lại có những nét kiến trúc riêng và được xây dựng theo luật phong thủy, địa lý. Các chùa đều có cái thế đầu gối sơn, chân đạp thủy long có thành quách bao bọc rõ ràng. Trong hệ thống các thắng tích miền Tây Yên Tử tiêu biểu phải kể đến Vĩnh Nghiêm Tự, chùa Am Vãi và khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang…
Chùa Vĩnh Nghiêm hay còn gọi là Đức La thuộc thôn Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng chỉ cách thành phố Bắc Giang khoảng 10 km về phía Nam. Chùa được xây dựng từ thời Lý và mở rộng vào thời Trần khi vua Trần chút bỏ hoàng bào tu hành hoằng đạo đã đến nơi này và từ đó chùa Đức La trở thành trung tâm phật giáo của cả nước khi ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm mở trường thuyết phấp tại đây. Một thời, Đức La còn là nơi tiền trạm để các môn đồ Phật giáo, khách hành hương nghỉ chân trước khi vượt sông leo núi lên đỉnh Yên Tử. Vì thế người xưa từng có câu ca:
“Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm
Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành”.
Vĩnh Nghiêm được đặt ở nơi cảnh đẹp, thoáng và rộng, phía lưng tựa vào núi Cô Tiên thuộc dãy núi Nham Biền, mặt ngoảnh nhìn ngã ba Phượng Nhỡn – nơi hợp lưu của 3 con sông Lục Nam, Sông Thương và sông Cầu. Hiện nay, dù trải qua thăng trầm của hơn 700 năm lịch sử nhưng Vĩnh Nghiêm vẫn cơ bản giữ được lối kiến trúc cổ mang nét đặc trưng của các ngôi chùa cổ vùng đồng bằng Bắc bộ. Vĩnh Nghiêm hiện là nơi thờ Phật và ba vị tam tổ của thiền phái Trúc Lâm gồm:  Phật hoàng Trần Nhân Tông, thiền sư Pháp Loa và thiền sư Huyền Quang. Tham quan nơi này du khách sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng cây hoa Nhập Nhân có tuổi gần bằng với tuổi của ngôi chùa cổ, cây hoa Đại 300 năm tuổi và đặc biệt là kho mộc thư gồm gần 3 nghìn bản ván khắc kinh Phật, các trước tác của 3 vị Trúc Lâm Tam tổ…. Đây là bộ thư khố cổ niên đại hơn 300 tuổi có nhiều giá trị lịch sử phật học, văn hóa và y học đang được UNESCO xem xét công nhận là di sản tư liệu của thế giới, được hòa mình trong không khí thanh bình của làng quê Việt Nam với những bờ tre, gốc lúa và sự đón tiếp nồng hậu, chân thành của người dân địa phương.
Chùa Am Vãi hay còn gọi là Am Ni tự nằm cách thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn 15km, thuộc xã Nam Dương. Nằm ở vị trí núi cao nên phong cảnh chùa vừa thơ mộng lại vừa hùng vĩ và được đánh giá là một điểm linh tụ của trời đất. Chùa có cái thế lưng tựa núi, mặt ngoảnh nhìn ra thung lũng rộng mênh mông, nơi có con sông Lục Nam uốn mình như dải lụa. Chùa nằm cách xa khu dân cư, ẩn mình trong một khu rừng thưa. Để lên được Chùa, du khách có thể đi bằng đường núi từ xã Tân Mộc hay có thể đi bằng đường thủy dọc theo các nhánh của con sông Lục Nam đến bến Nam Dương và tiếp tục leo núi vào chùa. Và một con đường mới được mở mà ô tô có thể lên được đến sân chùa đó là đường từ xã Nam Dương. Theo đường này du khách đi chừng khoảng hơn 4 km trên sườn núi. Tuy đường lên chùa phải qua nhiều đèo dốc song bù lại từ trên sườn núi du khách có thể thả hồn ngắm cảnh núi non hùng vĩ của dãy Yên Tử và trải dài tầm mắt nhìn về phía thung lũng dưới chân núi, xa xa là những ngôi nhà thấp thoáng trong các đồi vải bạt ngàn, những cách đồng phì nhiêu được dòng sông Lục Nam bồi đắp... Ngôi chùa gắn liền với nhiều truyền tích về hang tiền, hang gạo, các nàng tiên giáng trần mà dấu tích vẫn còn lại quanh chùa đến ngày nay.Nơi đây cũng từng là chốn tu thiền nhập định của công chúa nhà Trần…Đến chùa Am Vãi du khách không chỉ thoả lòng thành tâm hướng Phật, được thưởng ngoạn cảnh đẹp núi non hùng vĩ, bản làng thơ mộng và thưởng thức dòng nước ngọt ngào tuôn ra quanh năm từ những khe núi… đắm mình trong thiên nhiên cây cỏ ở khu rừng thưa tĩnh lặng phía sau chùa, tạm lánh xa những sô bồ của cuộc sống hiện đại, thư thái tìm về cõi tâm linh…   

Cong-ty-su-kien-Tran-Gia-Den-Ha-tai-khu-thang-canh-suoi-Mo
Đến với miền đất linh thiêng Tây Yên Tử du khách có thể ghé thăm khu thắng cảnh suối Mỡ, chùa Hồ Bấc, đỉnh Yên Mã thuộc huyện Lục Nam…Đi thăm bản văn hóa người Dao thuộc xã Tuấn Mậu huyện Sơn Động nằm ngay dưới chân núi Yên Tử.  Cư dân của Bản Mậu 100% là người Dao hiện còn gìn giữ được nhiều nét văn hóa đặc trưng của tộc người như nghề hái và bốc thuốc Nam truyền thống, nghề thêu thổ cẩm. Trước kia, nơi đây từng có nhiều con gái đẹp được tiến Vua. Các cô gái bản Mậu sở hữu một vẻ đẹp hoang sơ với nước da trắng ngần, đôi mắt đen biết nói và thuộc những bài dân ca trong vắt…
Tiếp tục cuộc hành trình quí khách sẽ khám phá khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử tại khu du lịch sinh thái Đồng Thông – nơi bảo tồn hàng ngàn loài động thực vật quí hiếm và nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như thác Giót, thác Ba tia, Bãi Đá Rạn, Ao vua, Hồ Tiên, Suối nước trong hay còn gọi là suối Thông, Suối nước vàng…Từ đây quí khách sẽ chỉ mất khoảng 2 giờ đi bộ để chinh phục chốn phù vân linh thiêng Yên Tử với đích đến là Chùa Đồng…Suốt dọc hành trình chinh phục chùa Đồng quí khách sẽ được thưởng thức tiếng chim ca, tiếng róc rách của nước chảy, tiếng sào sạc của rừng cây, đắm mình trong cảnh thiên nhiên hoang sơ và hùng vĩ của núi rừng Yên Tử…
Hiện nay con đường từ thành phố Bắc Giang đi Yên Tử đã khá thuận lợi với khoảng cách chừng hơn 2 giờ xe chạy. Để rút ngắn thời gian đi từ thành phố Bắc Giang đến với Tây Yên Tử, UBND tỉnh Bắc Giang vừa phê duyệt dự án đầu tư trên 2.700 tỷ đồng cho việc cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 293 từ thành phố Bắc Giang đi Sơn Động và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử, chùa Vĩnh Nghiêm; Thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Tây Yên Tử với trị giá khoảng 50 tỷ đồng gồm các hạng mục như xây nhà điều hành, khu nhà sàn dân tộc, nhà để xe, mở rộng đường lên Chùa Đồng…vv Cùng với đó hiện sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tiến hành xây dựng quy hoạch bảo tồn tổng thể hệ thống di tích danh lam thắng cảnh phía sườn Tây Yên Tử nhằm bảo tồn cảnh quan, giá trị lịch sử văn hóa của các di tích đồng thời tạo cơ sở phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách. Đến với Bắc Giang vào mùa xuân Du khách sẽ còn có cơ hội tham gia vào các lễ hội truyền thống của người dân địa phương tại chùa Vĩnh Nghiêm được tổ chức vào ngày 14- 15/2, hội chùa Am Vãi vào dịp 23 tháng 3, hội đền Suối Mỡ được mở vào ngày 30-1/4 âm lịch hằng năm.
                                                                 Nguồn:  Hà Yến

Hoa Sen - Biểu tượng văn hóa Việt Nam

Written By Trangia Event on Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012 | 19:14


Trangia Event - Hoa sen-Biểu tượng văn hoá người Việt

Tồn tại từ ngàn năm cùng với cây cỏ thiên nhiên đất nước, hoa sen không chỉ là người bạn thân thiết mà còn được xem như là biểu trưng văn hoá bén rễ sâu trong tâm thức người dân Việt.                         

Hoa sen có tên khoa học là Nelumbonaceae, thuộc loài túc thảo, môi trường sống tự nhiên của hoa sen ở vùng đầm lầy, ao, hồ nông hoặc ở vùng sâu ngập nước. Theo các nhà khoa học, sen đã có mặt trên trái đất khoảng từ gần 100 triệu năm trước. Hiện nay trên thề giới còn hai loại sen hoa vàng (Nelumbonaceae Pers) có ở miền Bắc và miền Trung Châu Mỹ và hoa sen đỏ ( Nelumbo Nucifera Gaertn) mọc phổ biến ở nhiều nước Châu Á và Châu Úc. Mùa hè là mua sen nở và hương sen dịu nhẹ có thể thoảng trong gió bay xa đến vài trăm mét. Ở Việt Nam, sen được xếp vào bộ tứ quý ( 4 mùa): Lan, sen, cúc, mai và xếp vào hàng “tứ quân tử” cùng tùng, trúc, cúc.


Trangia Event -Hoa sen-Biểu tượng văn hoá người Việt
 Hoa sen rất thích hợp với môi trường có khí hậu nhiệt đới như nước ta. Từ Bắc vào Nam, nó có mặt khắp mọi nơi, gần gũi và thân thiết với mọi người như cây tre, cây đa. Nếu ở miền Bắc, hoa sen chỉ nở vào mùa hè, thì ở hầu khắp miền Nam quanh năm đâu đâu cũng thấy sen khoe sắc thắm, đặc biệt ở vùng Đồng Tháp Mười:

   Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Trong lòng mỗi người dân Việt, sen là loài hoa tượng trưng cho vẻ đẹp tươi sáng, cao sang và thuần khiết mang tính chất dân tộc. Chính vì thế, hoa sen luôn là nguồn cảm hứng bất tuyệt của thi ca và nghệ thuật... Có lẽ, không người Việt Nam nào không thuộc bài ca dao đầy tính triết lý này:

     Trong đầm gì đẹp bằng sen
 Lá xanh bông trắng lại chen nhuỵ vàng
     Nhuỵ vàng bông trắng là xanh
 Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

 Người Việt đã cảm nhận được ý hay “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, sen sống trong bùn nhưng sen vươn lên trên lầy, toả hương thơm ngát. Sen có một sức sống mạnh mẽ đến kỳ lạ và tự tính của sen là tinh khiết, vô nhiễm. Nó tượng trưng cho bản tính thân thiện, phong thái tao nhã, tinh thần “vươn dậy” trong mọi nghịch cảnh của con người Việt Nam. Đặc biệt trong tư tưởng Phật giáo, hoa sen được tôn quý và chiếm vị trí rất quan trọng. Tinh thần “cư trần bất nhiễm trần”, đó cũng chính là ý nghĩa của hoa sen biểu trưng cho những giá trị đạo đức, sự thuần khiết và thánh thiện, sự duy trì và phát triển của Phật pháp, trí tuệ dẫn đến niết bàn. Trong các công trình kiến trúc Phật giáo ở Việt Nam, sen luôn trở thành hình tượng nghệ thuật. Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu lấy cảm hứng từ hoa sen là chùa Một Cột. Theo truyền thuyết, ngôi chùa này được hình thành từ một giấc mộng đài sen của vua Lý Thái Tông. Cảm hứng từ mộng là loại tâm lý nghệ thuật của các dân tộc phương Đông. Chùa có hình dáng hoa sen, mọc lên từ hồ nước, chỉ với “một cột” một cọng sen. Ở đây, hoa sen là sự giác ngộ, đạt được sự trong sáng và giải thoát khỏi bùn nhơ...

Không chỉ vậy, hoa sen còn gắn bó và hiện diện trong đời sống hàng ngày của người dân Việt: Tâm sen dùng để ướp thuốc, hương sen dùng để ướp chè, ngó sen dùng để làm món ăn, lá sen cũng dùng để gói bánh, gói cốm và nó mang lại mùi thơm đặc biệt.

Cảm nhận được vẻ đẹp tinh tuý và ý nghĩa thanh cao của hoa sen nên từ cánh đồng nơi thôn dã, từ trong đời sống dân gian, ẩn sâu trong tiềm thức của người dân Việt, hoa sen đã trở thành hình ảnh Việt Nam trên bầu trời cao. Hãng hàng không Việt Nam (Vietnam Airline) đã chính thức chọn biểu tượng bông sen vàng sáu cánh để kết nối Việt Nam với các nước khác trong thiên niên kỷ này.


Sen thơm, hương lại hữu sắc. Dù trong hoàn cảnh nào sen cũng hàm chứa trong nó sự tinh tế, thuần khiết, cao đẹp. Nó thật sự là biểu trưng tiêu biểu nhất cho văn hoá và cốt cách nhân văn của người Việt Nam.

Hoa sen có cả sắc lẫn hương và sự vươn lên khỏi bùn nhơ để nở hoa của nó đã làm cho loài hoa này mang một ý nghĩa đặc biệt. Hoa sen có mặt trong hầu hết các lĩnh vực từ văn học nghệ thuật cho đến kiến trúc hội hoạ, và đặc biệt là tôn giáo... Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới. Đối với Phật giáo, hoa sen hiển hiện khắc nơi từ trong kinh điển cho đến các sản phẩm thờ cúng, tư thế ngồi thiền, cách chấp tay... Hầu như ở đâu có Phật giáo người ta sẽ tìm thấy ở đó có hoa sen, hay nói cách khác hoa sen là biểu tượng của Phật giáo.

Hoa sen thể hiện trong kiến trúc chùa, tháp

Trong nghệ thuật Việt Nam, hình tượng hoa sen dày đặc từ các phù điêu, đá tảng kê chân cột, bệ tượng Phật đến các dáng gốm và hoạ tiết trang trí. Song cô đọng và sáng tạo hơn cả là hình tượng hoa sen trong kiến trúc chùa tháp Phật giáo.

Những công trình kiến trúc tiêu biểu với hình tượng hoa sen thường xuất hiện trong những giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo. Đó là thời Lý thế kỷ thứ 11 với Chùa Một Cột - Hà Nội; thế kỷ thứ 17 với Tháp Cửu phẩm liên hoa, Chùa Bút Tháp - Bắc Ninh; thế kỷ 18 với Chùa Tây Phương - Hà Tây, Chùa Kim Liên - Hà Nội.

Theo truyền thuyết chùa Một Cột hình thành từ một giấc mộng của vua Lý Thái Tông. Vào một đêm mùa xuân năm Kỷ Sửu (1049), vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài. Khi tỉnh dậy, vua nói chuyện lại với triều thần, có người cho là điềm xấu, nhưng thiền sư Thiền Tuệ thì khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như hình ảnh đã thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn xung quanh, tụng kinh cầu sống lâu và đặt tên là chùa Diên Hựu.

Hình tượng hoa sen ở Tháp Cửu phẩm liên hoa, Chùa Bút Tháp là một tổ hợp kết cấu gỗ dạng tháp quay chín tầng chồng lên nhau. Mỗi tầng có một đài sen rộng chừng 2 m, cao 50 cm. Cả tháp cao 7 đến 8 m. Phía ngoài tháp các cánh sen bằng gỗ sơn đỏ tạo thành tầng tầng lớp lớp so le nhau. Tầng một đến tầng chín biểu hiện cho những nấc thang của sự tinh tiến trong đạo Phật.

Hoa sen trong các sản phẩm trang trí – thờ tự
Điều dễ dàng nhận thấy ở đây là hoa sen đã quá đỗi gần gũi với nhà chùa. Trên mái lợp của chùa cũng có hoa sen, gạch lót nền, những phù điêu trên vách, những chạm trổ trên cửa đều có hoa sen, thậm chí thông gió cũng là hình hoa sen… Điều này muốn nói lên rằng, ngoài tính biểu tượng cho những gì thuộc về triết lý cao siêu của nhân sinh, của Phật giáo; ngoài những gì thuộc về tính “bác học”, hoa sen còn in đậm dấu ấn của mình trong tâm khảm của những nghệ nhân, những người thiết kế, những người tạo mẫu cho các sản phẩm xây dựng, trang trí. Ở đó, những đường nét của hoa sen cũng sống động, cũng hài hòa, thanh thoát.
   
Trangia Event- Hoa sen-Biểu tượng văn hoá người Việt

Ở đây, người viết cho rằng những kiểu thức khác nhau trong cách thể hiện hoa sen có thể phân làm ba phong cách căn bản đó là Ấn Độ, Tây Tạng và Trung Quốc.

Với phong cách Ấn Độ, chúng ta dễ nhận thấy sự ảnh hưởng của nó trong tranh tượng – phù điêu của các nước như: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam (Nam Tông - Khơme). Phong cách Tây Tạng đó là hoa sen với màu sắc sặc sỡ (chủ yếu là các màu nóng), và ít có tầm ảnh hưởng đến các nước khác. Có lẽ, Tây Tạng biệt lập với bên ngoài và thời tiết giá lạnh nên đã hình thành một phong cách rất riêng không thể trộn lẫn vào đâu được. Đối với phong cách Trung Quốc, và cũng là Việt Nam (Bắc Tông), người ta nhận thấy ở đây sự đơn giản trong cách thể hiện, không có nhiều những yếu tố cách điệu chồng chất lên nhau như Ấn Độ và cũng không quá màu sắc như Tây Tạng.

Thể hiện sự thanh khiết, hoa sen đã có mặt trong hầu hết các sản phẩm thờ cúng. Người ta bắt gặp ở đây rất nhiều từ trong chân đèn, lư hương, bình hoa, tách trà, đĩa bày trái cây, hộp đựng trầm… được thiết kế theo những kiểu thức hoa sen. Các sản phẩm thờ cúng này hầu như đều có hình dáng của hoa sen, hoặc ít ra thì hoa sen cũng được vẽ hay chạm trổ ở trên nó. Đây là điều vừa tạo nên yếu tố thẩm mỹ, vừa mang ý nghĩa thanh sạch. Cũng liên quan đến vấn đề thờ cúng này, hình tượng hoa sen còn được dùng để làm cái chum/hủ đựng cốt của người chết. Thể hiện một niềm tin được tái sinh vào cõi an lành hay một kiếp sống không còn khổ đau trần thế, hoa sen được xem là nơi trú ngụ của linh hồn sau khi chết và đợi đi tái sinh.

Hoa sen và yếu tố linh thánh
Hoa sen là loại hoa có bốn đặc tính vượt trội hơn các loại hoa khác: 1. Ở bùn lầy mà không ô nhiễm; 2. Hoa và quả kết cùng một lúc; 3. Loài ong, bướm không hút lấy hương nhụy; 4. Phụ nữ không dùng hoa sen để trang điểm như giắt trên đầu. Do hoa sen không bị nhiễm bởi bùn nhơ, nên nó được dùng làm biểu trưng cho tánh giác tự nhiên của Phật, tổng quát hơn là biểu trưng cho Phật.

Trangia Event - Hoa sen-Biểu tượng Văn hoá người Việt

Trong Phật giáo, hoa sen biểu trưng cho những giá trị đạo đức, sự thuần khiết và thánh thiện. Hoa sen còn biểu trưng cho trí tuệ siêu việt. Nó thể hiện niềm khao khát giác ngộ. Trong Mật điển có thần chú Lục tự Đại minh là tâm chú của ngày Quán Thế Âm Bồ Tát: "Om Mani Padme Hum" (Án Ma Ni Bát Di Hồng). Trong đó, Padme tiếng Tây Tạng có nghĩa là hoa sen, biểu tượng cho trí tuệ siêu việt, trí tuệ chứng ngộ tự nhiên vượt ra ngoài vòng vây hãm của nhị nguyên luận.

Hoa sen trong quan niệm truyền thống không ít trường hợp được coi là biểu trưng của sự sinh sản, của sự sáng tạo. Người ta cho rằng hoa là bộ phận sinh dục của cây. Điều này hoàn toàn đúng xét về mặt sinh vật học lẫn về mặt văn hóa, nhất là văn hóa cổ đại, khi quan hệ giới tính còn được coi là thiêng liêng, là nguồn cội của lẽ sinh thành vạn vật. Hoa sen với gương sen của nó chứa đựng những chủng tử (hạt sen) đã được coi là biểu trưng của cơ quan sinh sản và sen là biểu trưng cho sự thịnh vượng, cho Phúc, một trong ba điều tối hảo: Phúc - Lộc - Thọ của người Trung Quốc.

Trong lịch sử Phật Thích Ca từ lúc đản sinh cho đến lúc nhập diệt, Ngài đều ở trên hoa sen. Điều này biểu trưng cho tinh thần bất nhiễm trần của người giác ngộ lẽ đời, và cũng tượng trưng cho trí tuệ, cho triết lý cao siêu của Phật giáo.

Ảnh hưởng của hoa sen trong tâm thức Phật giáo

Đối với người Ai Cập, sen được biểu hiện cho dương khí. Nhưng đối với Nam Á và phương Đông, sen lại chứa nhiều yếu tố âm, nó là bóng dáng của phái đẹp. Trong nghệ thuật tạo hình ở Việt Nam, chúng ta từng gặp những đài sen là chỗ ngồi của Phật và các linh vật ở miền tịnh thổ (đất Phật) biểu hiện cõi chân như, yên lặng tuyệt đối, cõi không sinh, không diệt. Những người theo đạo Phật thường hiểu sen với những đường gân của nó như 84 vạn pháp môn chảy chung về một nguồn, đó là cuống sen và cũng chính là nguồn giải thoát, là nhất chính đạo đi về một hướng để chuyển tải Phật pháp hoà nhập vào cuộc đời.

Trangia Event -Hoa sen-Biểu tượng văn hoá người Việt
                                 

Từ khi Phật giáo xuất hiện cho đến ngày nay, hoa sen với những ý nghĩa của nó đã thấm sâu vào tâm thức Phật giáo. Những triết lý tưởng chừng như bỏ ngõ cuộc đời, xa lánh cuộc đời trần thế lại là những triết lý có nguồn gốc từ những khổ đau của chúng sanh. Đức Phật đã từng nói với các đệ tử của mình, như nước đại dương chỉ có một vị mặn, giáo lý của Như Lai cũng chỉ có một vị là giải thoát. Vị giải thoát đó chính là cởi trói cho những ràng buộc, những khổ đau, những cố chấp, bám víu .v.v… của chúng ta trong cuộc đời. Như thể hoa sen, lấy chất liệu là bùn nhơ, nước đục nhưng hương sắc của nó làm ấm áp lòng người.

Hoa sen trong kinh Phật biểu tượng cho chân lý. Và chân lý đó là chân lý hiện thực trong cuộc đời. Về mặt xã hội và tôn giáo, hoa sen biểu trưng cho con đường "nhập thế sinh động" của Phật giáo. Đó là những thành ngữ thường được dùng như "Cư trần bất nhiễm trần" (Sống trong trần thế nhưng không bị ô nhiễm bởi trần thế), hoặc "Phật pháp bất ly thế gian pháp" (Phật pháp không rời các pháp thế gian mà có), hoặc "muốn đến Niết bàn hãy vào đường sinh tử" v.v... Về mặt triết lý, hoa sen tượng trưng cho nhân quả cùng thời...

                                                                                                                         Nguồn: Sưu tầm

Sự kiện nổi bật