Kiến thức tổ chức sự kiện | Kinh nghiệm tổ chức sự kiện | Tổ chức sự kiện chuyên nghiệp: Luỹ tre làng

Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn Luỹ tre làng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luỹ tre làng. Hiển thị tất cả bài đăng

Làng trong văn hóa truyền thống Việt Nam

Written By Trangia Event on Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012 | 21:24

(LV) - Với điều kiện địa lý nằm ở Đông Nam châu Á, nên có thể nói, Việt Nam mang đầy đủ các đặc trưng chủ yếu của một nền văn hoá gốc nông nghiệp điển hình.
Cổng làng Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội). Ảnh: Internet.
Trangia Event - Cổng làng cổ Đường Lâm
Xuất phát từ những đặc trưng hết sức cơ bản của nền văn hoá gốc nông nghiệp như ý thức tôn trọng và ước vọng hoà hợp cùng thiên nhiên, lối sống tư duy tổng hợp mang tính chất của chủ nghĩa kinh nghiệm phong phú cho nên về mặt tổ chức cộng đồng xã hội, người Việt Nam luôn sống và tổ chức lối sống theo nguyên tắc trọng tình, sống cố định, ngại di chuyển và lấy gia tộc, họ hàng, láng giềng hàng xóm làm mối quan hệ giao tiếp, sinh hoạt hàng đầu trong cuộc sống thường nhật.
Đơn vị cơ sở đầu tiên làm nền tảng cho các tổ chức cộng đồng - xã hội lớn hơn của người Việt là gia đình và gia tộc với những con người cùng quan hệ huyết thống. Đối với người Việt Nam, gia tộc là khởi nguồn cho mối quan hệ giữa con người với con người trong một cộng đồng gắn bó có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng. Người Việt coi trọng các khái niệm về gia tộc như dòng họ, trưởng tộc, nhà thờ họ, từ đường, gia phả, giỗ chạp, mừng thọ… Chính với sự coi trọng gia đình và gia tộc đã hình thành khái niệm làng. Làng ở Việt Nam là một tổ chức xã hội được tổ chức chặt chẽ và có vai trò ổn định. Do tính chất gia tộc và dòng họ quá lớn cho nên đôi khi có sự đồng nhất giữa làng và gia tộc. Làng có thể là nơi ở của một họ hoặc một vài dòng họ lớn. Các họ trong làng có mối quan hệ gắn bó lâu đời và mang tính bất biến với tính chất cộng đồng và tự trị rất cao. Người Việt rất sợ cảnh bị “đuổi ra khỏi làng”, sợ cảnh phải bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ làng ra đi. Làng chính là nơi cư trú, là nơi mà mọi người gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống, quan hệ cộng đồng và quan hệ sản xuất. Với cơ sở văn hoá là nền tảng nông nghiệp mà nghề trồng lúa nước là nghề chính, người Việt luôn có xu hướng thích đẻ nhiều (nhiều con nhiều của), làm đổi công cho nhau, bên cạnh đó tính quần tụ giúp người Việt có thể giúp đỡ nhau chống đỡ với thiên tai, địch họa, do đó họ phải hợp sức với nhau. Người Việt trong một làng dù không có mối quan hệ thân tộc thì họ vẫn luôn liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành tình làng nghĩa xóm, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau hay bán anh em xa mua láng giềng gần. Như vậy, bà con lối xóm là mối quan hệ cộng đồng gắn kết quan trọng thứ hai sau quan hệ huyết thống dòng tộc.
Lễ hội Cầu Ngói - Chợ Lương, xã Hải Anh (Hải Hậu)
Trangia Event - Lễ hội Cầu Ngói - Chợ Lương, xã Hải Anh (Hải Hậu).
Một nguyên tắc quan trọng hình thành nên làng là tính cộng đồng. Tính cộng đồng có vai trò gắn kết các thành viên trong làng lại với nhau thông qua các biểu tượng mang tính truyền thống, như cây đa, bến nước, sân đình. Hầu hết, mọi làng của người Việt đều hội tụ cả ba biểu tượng này. Dù đi xa mãi đâu mỗi khi về làng, hình ảnh mà người ta mong chờ được nhìn thấy đầu tiên chính là cây đa đầu làng. Phải nói rằng, cây đa chính là nơi hội tụ giao tiếp của làng với thế giới bên ngoài, là chốn nghỉ chân của lữ khách qua đường hay của những người dân sau một ngày lao động nơi đồng ruộng. Nói tới cây đa, người ta luôn dành cho biểu tượng này những lời thành kính, thậm chí là sợ hãi như là: Thần cây đa, ma cây gạo hay sợ thần sợ cả cây đa. Bên cạnh cây đa, bến nước chính là nơi tập trung cho sinh hoạt thường nhật của dân làng, đặc biệt là những người phụ nữ. Bến nước có thể là một đoạn của con sông chảy qua làng hay một hồ lớn của làng thậm chí đôi khi chỉ là một giếng nước. Đây chính là chỗ giao lưu, tâm sự chuyện trò của chị em phụ nữ trong khi tắm cho con, vo gạo, rửa rau… Nếu như, bến nước là nơi tập trung của phụ nữ trong làng thì cánh đàn ông của làng lại thường tập trung ở sân đình. Sân đình chính là trung tâm hành chính, văn hoá xã hội của làng. Tất cả các việc quan trọng của làng đều diễn ra ở đây như hội họp việc làng, xét xử kiện tụng, đón rước quan trên, hội hè ăn uống, văn hoá văn nghệ giải trí. Về mặt kiến trúc, đình làng được xây dựng trên những nguyên tắc của thuật phong thuỷ và thường được xây dựng tại trung tâm của làng. Lý tưởng nhất là đình có địa điểm thoáng đãng, có sóng nước hay ao hồ thiên nhiên phía trước mang ý nghĩa tụ thuỷ thịnh mãn cho cả làng. Đình làng thường được dựng bằng những cột lim tròn, thẳng và to, tường xây bằng gạch, mái lợp ngói mũi hài, trên nóc là hai con rồng chầu mặt nguyệt gọi là lưỡng long chầu nguyệt. Sân đình lát gạch, trước đình có hai cột cao vút, trên đỉnh được tạc hình con nghê. Trong đình, gian giữa thờ Thành hoàng làng và có một chiếc trống cái để gọi dân làng về tụ họp. Về khía cạnh tâm linh, đình có giá trị to lớn trong quyết định vận mệnh của cả làng. Ngự trị trong đình là Thành hoàng làng. Thành hoàng là vị thần được tôn thờ chính, là chủ tể cõi thiêng của làng mang tính chất bảo trợ cho làng. Thường thì mỗi làng thờ một vị Thành hoàng làng nhưng cũng có những làng thờ đến hai ba vị và được gọi chung là phúc thần. Phúc thần được chia làm ba bậc là Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần. Một làng có phúc hay không người ta thường ngắm đình của làng đó xem thế đất và hướng đình có phù hợp theo phong thuỷ không.
Cùng với tính cộng đồng, tính tự trị cũng là một đặc trưng gốc rễ trong văn hoá làng của người Việt. Tính tự trị nhấn mạnh đến sự khác biệt, là nền tảng tạo nên tính độc lập cộng đồng. Đối với làng, biểu tượng truyền thống của tính tự trị là luỹ tre làng. Luỹ tre trở thành thành luỹ kiên cố của làng bất khả xâm phạm. Đối với người Việt, bên ngoài luỹ tre làng là cả một thế giới khác cho nên có người cả đời không bước ra khỏi luỹ tre làng. Do tính chất khép kín dẫn đến làng người Việt luôn mang trong mình tính bảo thủ, địa phương cục bộ như Trống làng nào làng đấy đánh, Thánh làng nào làng nấy thờ hay Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Tính tự trị cũng tạo cho người Việt tính gia trưởng tôn ti hay óc bè phái tư hữu ích kỷ. Bởi vậy trong làng, người ta coi trọng họ to họ nhỏ, con trưởng con thứ, tư tưởng thứ bậc, thói gia đình chủ nghĩa.
Với đặc trưng vừa mang tính cộng đồng vừa mang tính tự trị cho nên làng của người Việt có tinh thần đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau nhưng cũng luôn khép kín bảo thủ. Làng là tổ chức xã hội cơ sở đặc biệt của người Việt mà từ đó tạo nên tính cách của người Việt, mà một trong những tính cách mạng, tính truyền thống ngàn đời đó chính là ý thức độc lập và lòng yêu nước. Tính cộng đồng làng xóm tạo nên tinh thần đoàn kết toàn dân bởi vậy mới có: Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn và cao hơn là Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng. Như vậy xét một cách sâu xa, tinh thần đoàn kết toàn dân, ý thức độc lập dân tộc và lòng yêu nước được xuất phát và hun đúc từ truyền thống làng của người Việt Nam.
Trong xã hội hiện đại, xét về mặt cấu trúc, kiến trúc, làng Việt Nam đã thay đổi toàn diện về mọi lĩnh vực. Trong xu thế đô thị hoá, CNH-HĐH hầu như còn rất ít làng còn giữ được các biểu tượng truyền thống mang tính cổ điển của làng như luỹ tre, cây đa, bến nước, sân đình. Tuy vậy, những đặc trưng tốt đẹp trong văn hoá làng của người Việt vẫn tồn tại và được thừa kế, phát huy. Trong tâm khảm mỗi người con đất Việt, dù đi đâu, về đâu đều hướng về ngôi làng thân thương của mình, cộng đồng thân thuộc của mình, đều mang trong mình tinh thần đoàn kết, đùm bọc nhau cũng như ý thức tự lực tự cường, đó chính là ngọn nguồn của lòng yêu nước bất diệt của dân tộc Việt Nam./.
                                                                                                           Nguồn: BN (Theo Tạp chí Văn hóa)

CÂY TRE - NÉT ĐẸP VĂN HOÁ VIỆT NAM

Written By Trangia Event on Thứ Tư, 19 tháng 9, 2012 | 19:29


(Dân trí)- Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả-được xem như là biểu tượng của người Việt, đất Việt...
          Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng...”

                                                             “Tre xanh, xanh tự bao giờ
                                                     Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh...”
                          Trangia Event - Tre xanh Việt Nam 
           Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,... và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt... Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.
         Cùng với cây đa, bến nước, sân đình, một hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.
         Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “...Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc...”. Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng - hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Ân xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.
          Mặt khác, hình tượng của cậu bé Thánh Gióng vươn vai hóa thân thành người khổng lồ rất có thể liên quan đến khả năng sinh trưởng rất nhanh của cây tre (theo các nhà Thực vật học, thì cây tre phát triển điều kiện lý tưởng, có thể cao thêm từ 15 -20cm mỗi ngày).
          Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre xanh đã trở thành “pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng hóa. Tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn côngtrong các cuộc chiến.
         Chính những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược để giàng Độc lập - Tự do cho Tổ Quốc.

         “Tre giữ làng, giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,...” Tác dụng của tre đối với chất đất đang được nghiên cứu với quan sát rõ nhất là tre mọc rất mạnh tại những vùng bị rải chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam.
          Tre được sử dụng làm nhà, (cột, kèo), làm đũa, làm máng nước, làm rổ rá, vật dụng nông nghiệp (gầu, cán cuốc, cán xẻng). Tre non làm thức ăn (măng). Tre khô kể cả rễ làm củi đun. Tre trồng dày đặc làm rào tự nhiên cho các làng ở đồng bằng miền Bắc.
          Trong chiến tranh, tre được sử dụng làm vũ khí rất lợi hại (chông tre, gậy, cung tên). Lịch sử có kể về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Thiện Thuật, người đã dựa vào hàng rào cây tre dày đặc mà đạn của Pháp không bắn xuyên qua được.
          Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích (Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,...) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre.
          Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,... Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như : đàn tơ tưng, sáo, kèn,...
           Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm... Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.
          Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.
          Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẻ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre.
           Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”.
           Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước - Tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên ường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.
           Tre có mặt từ vùng núi cho tới đồng bằng, tất cả các vùng miền trên đất nước VN đều có sự sống của cây tre. 54 dân tộc anh em trên đất nước VN đều có đời sống không nhiều thì ít vẫn gắng bó với cây tre. Thử hỏi ở các vùng núi lấy đâu ra Hoa sen, mà lại nói là “Hoa sen trồng phổ biến trên đất nước VN”?
            Hà Nội ngày nay tuy tre không còn nhiều (Lăng Bác thì có tre ngà). Giờ mở rộng Hà nội tre lại bát ngát các vùng quê ôm làng ôm xóm. Chiều về khói rơm không còn quấn quýt bên tre, (vì đun than, đun ga), nhưng tôi vẫn thấy cây tre vươn thẳng gắn bó với thôn quê dẫu bao năm đổi thay từng ngày lên phố.
           Nguồn: Phương Law

Sự kiện nổi bật